Cập nhật ngày Thứ tư, 26 Tháng 1 2011 23:18 Viết bởi Administrator Thứ hai, 11 Tháng 8 2008 22:13
U xơ thần kinh là bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, ảnh hưởng đến xương, thần kinh, mô mêm và da. Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện được ít nhất 8 typ của bệnh u xơ thần kinh trong đó có 2 typ chính: u xơ thần kinh ngoại vi (neurofibromatosis 1 - NF-1) còn gọi là bệnh von Recklinghausen (von Recklinghausen disease) và u xơ thần kinh trung tâm (neurofibromatosis 2 - NF-2). Biểu hiện lâm sàng tăng theo thời gian. Tổn thương thần kinh và ung thư hoá thường bất ngờ.
Dịch tễ học
Tần số: NF-1 khoảng 1/2.500-3.300 trường hợp sinh sống. NF-2 khoảng 1/50.000-120.000 dân sô.
Chủng tộc: bệnh gặp ở tất cả các chủng tộc.
Giới: nam và nữ ngang nhau.
Nguyên nhân: di truyền gen trội trên nhiễm sắc thể thường, NF-1 do gen trên 17q11.2, NF-2 do gen trên 22q11 NF- do sự rối loạn nhiễm sắc thể của hệ thống thần kinh, di truyền theo nhiễm sắc thể tính trội, tạo ra u trên các sợi thần kinh ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể: xương, mô mềm, da và hệ thần kinh. 50% số bệnh nhân u sợi thần kinh có tiền sử gia đình từ bố hoặc mẹ, số còn lại là do đột biến các nhiễm sắc thể, mới xuất hiện và vẫn có thể di truyền tiếp cho thế hệ sau.
Lâm sàng
Dát cà-phê sữa: dát tăng sắc tố, kích thước từ 1,5cm trở lên, số lượng từ 6 tổn thương trở lên. Ở trẻ em, có từ 5 tổn thương dát cà-phê sữa đường kính từ 0,5cm trở lên gợi ý đến bệnh u xơ thần kinh. Dát tăng sắc tố ở nách (dấu hiệu Crowe).
Nốt Lisch: u mô thừa (hamartomas) của mống mắt phát hiện bằng đèn slit. Bắt đầu xuất hiện ở trẻ 5 tuổi, gặp ở 20% trẻ bị bệnh, từ tuổi trưởng thành gặp 95% bệnh nhân; không xuất hiện ở bệnh nhân NF-2. Không có triệu chứng nhưng là một dấu hiệu để chẩn đoán bệnh.
Xương: khớp giả, mỏng màng xương dài, khiếm khuyết ổ mắt. Có thể có vẹo cột sống, tăng sinh xương khu trú nhất là ở mặt
U xơ thần kinh: đây là tổn thương u lành tính thường gặp nhất trong NF-1. Thành phần: tế bào Schwann, nguyên bào sợi, tế bào mast và mạch máu. Chúng xuất hiện ở bất kỳ đầu tận cùng của dây thần kinh nào. Có 3 loại tổn thương: da, dưới da và đám rối. Loại tổn thương da và dưới da: nốt (nodule) bờ rõ; màu da hoặc màu nâu, màu hồng; sờ mềm hoặc chắc; lõm khi ấn ngón tay vào. U xơ thần kinh thể đám rối bờ không rõ, không đều.
Thần kinh: có thể có những biểu hiện bất thường. Có thể có u dây thần kinh số 8 hoặc u thần kinh đệm dây thần kinh thị giác. U tế bào hình sao (astrocytoma), u màng não (meningioma), u thần kinh đệm nội tủy (intramedullary glioma), u màng não thất (ependymoma) xuất hiện với tần số cao. Những khối u có thể tăng áp lực nội sọ, đột quỵ, gây mất thăng bằng, bất thường thần kinh sọ. U Schwann ít gặp ở bệnh nhân NF-1 nhưng có thể biểu hiện ở vỏ dây thần kinh tủy sống; tuy nhiên ở bệnh nhân NF-2, đây là u thường gặp, cả thần kinh sọ não và thần kinh ngoại biên. Bệnh nhân thường trì trệ thần kinh.
Nội tiết: thường gặp một số bất thường: thiếu hụt hormon phát triển (growth hormone), lùn; dạy thì sớm gặp ở 3-5% trẻ bị bệnh, thường liên quan với u nội sọ; u tủy thượng thận (tăng huyết áp, cơn bốc hỏa).
Triệu chứng lâm sàng thường gặp của u xơ thần kinh type 1 (NF1) là:
-CÓ ≥6 đốm nâu trên da, d ≥ 0,5cm, màu cà phê sữa (café-au-lait spots), các đốm này có thể thấy ngay sau khi sinh, tăng số lượng và kích thước theo tuổi. Triệu chứng này có thể xuất hiện ở 1,8% trẻ sơ sinh, 25%-40% trẻ em và 14% người lớn bị NF1.Các đốm da màu cà phê sữa cũng có thể xuất hiện ở những người không bị NF1 nhưng, đối với những người có ≥5 đốm ngoài da dạng này, đặc biệt xuất hiện trong những năm đầu đời trước 5 tuổi, cần được các Bác sĩ xem xét về nguy cơ có thể bị NF1.
-Tan nhang: ở những chỗ nếp gấp của da như nách, háng, dưới vú. Đây là những triệu chứng rõ ràng của NF1.
-Các khối u lành tính ở dưới da hoặc sâu hơn: phát triển dần khi trẻ lớn lên. Đây là các khối u sợi thần kinh, người bệnh có thể không mang một khối u nào hoặc có đến vài trăm khối u trên cơ thể. Các khối u này có kích thước đa dạng, cứng hoặc mềm, có thể đau hoặc không đau. Chúng có thể gia tăng kích thước cũng như số lượng ở tuổi dậy thì hoặc trong thời gian thai nghén, gây mất thẩm mỹ hoặc trở ngại nhiều cho sinh hoạt của người bệnh, đôi khi phải cần đến phẫu thuật can thiệp.
- Mắt: làm lồi mắt, giảm thị lực, mù do các khối u phát triển trên dây thần kinh thị giác. Nốt Lisch (khối u nhỏ) màu vàng, nâu thường xuất hiện trên mống mắt nhưng không gây rối loạn thị giác. Chúng thường được phát hiện ở tuổi 6-10 với tỉ lệ 97-100% bệnh nhân bị NF1 và là triệu chứng giúp thầy thuốc chẩn đoán xác định bệnh.
-Đầu: động kinh, nhức đầu, u não, thiểu năng tuần hoàn não, mất khả năng học tập (25%-40%), chậm phát triển tâm thần (5%-10%), đầu chi to quá khổ.
-Tim mạch: có biểu hiện cao huyết áp.
-Tiêu hóa: thường đau bụng, nôn mửa, táo bón mạn tính hoặc tiêu chảy.
-Sinh dục: dậy thì sớm hoặc dậy thì muộn.
-Cơ xương khớp: Vẹo cột sống (scoliosis) thường xuất hiện sớm.Bệnh có thể gây khớp giả, biến dạng đầu chi, biến dạng các xương dài (chân vòng kiềng).
-Các biến chứng khác : chậm biết đi, chậm biết nói, tầm vóc lùn, chậm phát triển trí tuệ (IQ thấp hơn trung bình), học kém, khối lượng và kích thước các khối u tăng trong thai kỳ, ngứa dữ dội, trì trệ tâm sinh lý. Nguy cơ thoái triển thành ung thư có tỉ lệ thấp (3%-12%).Các biểu hiện ở nội tạng thể hiện mức độ trầm trọng của bệnh NF1 chứ không phải là các triệu chứng rầm rộ ngoài da.
Tiêu chuẩn chẩn đoán NF-1 (ít nhất 2 trong số các tiêu chuẩn sau):
- ≥6 dát cà-phê sữa có đường kính lớn hơn 5mm (trước dạy thì), lớn hơn 15mm (sau dạy thì).
- ≥ 2 u xơ thần kinh hay 1 đám rối u xơ thần kinh.
- Dát tăng sắc tố ở nách hoặc bẹn.
- U thần kinh đệm mắt.
- Có từ 2 nốt Lisch trở lên.
- Thương tổn đặc trưng ở xương: loạn sản xương bướm hay mỏng màng xương dài có hoặc không kèm khớp giả.
- Gia đình có người thuộc thế hệ gần nhất của bệnh nhân (bố mẹ, anh chị em ruột, con đẻ) trước đó đã được chẩn đoán NF-1.
Triệu chứng lâm sàng U xơ thần kinh type 2 (NF 2)
Còn gọi là U sợi thần kinh song phương (NF bilateral).Bệnh xuất hiện do rối loạn di truyền trội ở nhiễm sắc thể 22, có những khối u thần kinh trung ương như u thị giác, u tiền đình. Bệnh thường không xuất hiện trước tuổi dậy thì, tỉ lệ hiếm hơn NF1, khoảng 1/50.000 nhưng là dạng bệnh NF nặng hơn. NF2 phát triển trên cả hai sợi thần kinh ở tai dẫn tới nghe kém và thường là những triệu chứng đầu tiên của bệnh. Các triệu chứng lâm sàng khác gồm: Các đốm nâu cà phê sữa ở da, có ít và xuất hiện muộn hơn trong NF1; Các khối u sợi thần kinh lành tính dạng nốt dưới da; Triệu chứng tiền đình như ù tai, nghe kém, chóng mặt, rối loạn thăng bằng do các khối u chèn ép dây thần kinh tiền đình. Phẫu thuật sớm lấy bỏ khối u giúp bệnh nhân bảo tồn được sức nghe. Khối u thần kinh trong sọ như u thần kinh đệm, u màng não, u tủy sống, Đục thủy tinh thể sớm.
Tiêu chuẩn chẩn đoán NF-2 (1 hoặc 2 tiêu chuẩn):
- U dây thần kinh sọ số 8 đối xứng thấy trên chẩn đoán hình ảnh (CT Scan, MRI).
- Gia đình có người thuộc thế hệ gần nhất của bệnh nhân trước đó đã được chẩn đoán NF-2 kèm theo u dây thần kinh sọ số 8 một bên và/hoặc 2 trong: u xơ thần kinh (neurofibroma), u màng não (meningioma), u thần kinh đệm (glioma), u schwann (schwannoma).
Cận lâm sàng
Di truyền học.
Chẩn đoán hình ảnh:
- MRI sọ não và cột sống cổ.
- MRI để phát hiện U thần kinh đệm mắt.
- 18Fluorodeoxyglucose positron emission tomography (18FDG PET) giúp cho việc chẩn đoán U xơ thần kinh thể đám rối
Đèn Wood: phát hiện các dát cà-phê sữa không điển hình.
Đèn Slit: tiến hành ở những bệnh nhân trên 6 tuổi để phát hiện nốt Lisch.
Mô bệnh học.
Điều trị
Chủ yếu là phẫu thuật:
- Khi tổn thương tăng về kích thước và đau, ung thư hoá
- Ù tai, hoặc chóng mặt.
- Động kinh.
CÓ THỂ NHẬN BIẾT SỚM
KHI BẠN BỊ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC (BLTQĐTD)
Khi có tiền sử quan hệ tình dục không an tòan bạn rất dễ bị bệnh lây truyền qua đường tình dục. Biểu hiện bệnh ngoàii một số triệu chứng tòan thân như ( mệt mỏi, sốt, ngứa..) có một số hội chứng như sau:
1- Hội chứng tiết dịch niệu đạo: Có thể dịch tiết, dịch mủ và thường kèm theo đái buốt, đái rắc, đái nóng, các triệu chứng có thể tăng khi dùng chất dễ kích thích như uống rượi , cà phê, thức đêm…
2- Hội chứng tiết dịch âm đạo: Còn gọi là khí hư, huyết trắng, dịch có thể hôi, bọt, váng trắng hoặc dịch mủ. Bệnh có thể kèm theo đau nóng rát họặc đau khi giao hợp…
3- Hội chứng đau vùng bụng dưới: Đau âm ỉ vùng dưới rốn, 2 hố chậu, ở nam cò có thể sưng đau vùng bìu..
4- Hội chứng lóet vùng sinh dục: Có thể một hay nhiều đám, đôi khi kèm theo viêm do bội nhiễm,nổi hạch bẹn, một số bệnh mọc tổ chức sùi, tiết dịch, chảy máu…
Phần lớn (BLTQDTD) dễ phát hiện và điều trị khỏi hòan tòan. Nếu không điều trị kịp thời sẽ có nhiều di chứng và biến chứng. Biến chứng nguy hiểm là vô sinh, chửa ngòai dạ con (Lậu, chlamydia..), ung thư dương vật, ung thư cổ tư cung (do sùi mào gà)…
10 điỀu cẦn làm đỄ CÓ LÀN DA ĐẸP
1- Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng.
2-Không thức khuya, không dùng nhiều chất dễ kích thích ( Cà phê,rượu, thuốc lá…)
3- Không ăn uống quá mặn, quá ngọt, tránh thức ăn chiên xào nên ăn thức ăn luộc, hấp.
4-Hạn chế dùng mỹ phẩm, không nên thay đổi liên tục mỹ phẩm, không dùng mỹ phẩm lạ, mỹ phẩm không rõ nguồn gốc…
5- Tránh táo bón, nên uống nhiều nước lọc.
6- Thường xuyên tự mát sa da, thỉnh thỏang dùng dầu dừa bôi và xoa bóp tòan thân.
7-Hạn chế khẩu phần ăn thịt mỡ trứng, nên ăn nhiều cá, các lọai rau quả.
8- Sống vui vẻ, vô tư, yêu đời, hạn chế tối da stress tâm lý.
9- Áo quần nên hạn chế dùng sợi tổng hợp, dày, cứng, quá bó chặt. Nên dùng sợi bông vải, tơ lụa tự nhiên thân thiện, thông thóang và tránh ẩm ướt.
10- Hàng ngày phải có thời gian đi bộ, giây phút thư giãn, hít thở không khí trong lành.

ĐIỀU NÊN BIẾT
1-Bệnh da liễu rất phổ biến và hầu như ai cũng từng mắc hoặc đang mắc bệnh.
2-Tổn thương của bệnh da liễu rất dễ nhận biết nhưng rất khó chẩn đóan chính xác vì rất nhiều bệnh có tổn thương giống nhau.
3-Bệnh da liễu rất dễ tái phát vì bệnh liên quan mật thiết với điều kiện sống, cơ địa mỗi người, môi trường, chế độ ăn uống sinh họat, lứa tuổi, giới tính…
4-Khám bệnh da liễu rất cần sự tỉ mỷ, quan sát cẩn trọng các tổn thương, hiểu rõ tiền sử bệnh của bệnh nhân và gia đình,nắm bắt chính xác quá trình điều trị và diễn biến bệnh.
5- Bệnh da liễu phải điều trị có hệ thống, trong quá trình điều trị phải kiên trì và phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc với bệnh nhân thì hiệu quả điều trị mới cao.